Cách trung tâm Huế khoảng 40 km về phía bắc, bên một khúc quanh của sông Ô Lâu, Phước Tích đã là một ngôi làng hơn năm trăm năm. Đây là nơi đẹp nhất vùng Huế để xem nhà rường: những ngôi nhà gỗ truyền thống của miền Trung, chạm trổ và lắp mộng không đinh, vẫn đứng trong khu vườn nơi chúng được dựng lên, với chính gia đình chủ nhà sống bên trong. Quanh nhà là những lối đi rợp cây, đình, chùa, miếu, và một nghề gốm truyền qua nhiều đời.
Năm 2009, Phước Tích được xếp hạng Di tích quốc gia về kiến trúc nghệ thuật, vì những ngôi nhà gỗ, các công trình tín ngưỡng và cảnh quan làng. Muốn hiểu kiến trúc truyền thống và đời sống làng quê xứ Huế, đây là nơi nên đến.
Cách Huế một giờ đường, Phước Tích vẫn là một ngôi làng bình thường. Người ta làm vườn, nấu ăn, sửa mái, lo bàn thờ; nhà là nhà ở, không có cửa hàng ở gian trước, và khách đến rồi đi mà nhịp sống trong làng vẫn như cũ. Du lịch ở đây nhỏ và gần gũi: khách vào thăm nhà cùng chủ nhà, được dẫn đi xem và thường được mời một chén trà.
Chúng tôi biết làng khá rõ. Nhiều người thợ chạm và thợ mộc đã làm cho Thiên Ý, các biệt thự của chúng tôi trong Kinh thành Huế, là người Phước Tích, và phần lớn những gì họ làm cho chúng tôi được chạm ngay tại chỗ, trong sân nhà: tượng, đèn, lồng đèn, giường và bình phong. Hai ngôi nhà của chúng tôi cũng là nhà rường, cùng họ với những ngôi nhà bạn sẽ thấy ở đây. Bài viết này là những gì chúng tôi vẫn kể cho khách trước khi họ về làng.
Làng cổ Phước Tích: hơn năm trăm năm bên sông Ô Lâu
Làng được lập năm 1470, dưới triều vua Lê Thánh Tông. Vùng đất này vốn thuộc Champa cho đến năm 1306, khi vua Chế Mân dâng hai châu Ô, Lý cho Đại Việt làm sính lễ cưới công chúa Huyền Trân; dấu vết của thế giới cũ ấy vẫn còn trong làng, như ta sẽ thấy. Người khai canh là Hoàng Minh Hùng, quê Cảm Quyết, Quỳnh Lưu (Nghệ An), theo vua Lê Thánh Tông đánh Champa; mười hai dòng họ cùng ông định cư, và làng vẫn thờ họ là thập nhị tôn phái.
Theo tiếng địa phương, làng xưa có tên Kẻ Độôc, theo tên chiếc độôc, loại hũ đất không vành do thợ gốm làng làm. Gốm làng đã được nhắc đến trong Ô Châu cận lục từ thế kỷ XVI.
Làng đổi tên nhiều lần: ban đầu là Cảm Quyết, theo quê gốc của các vị khai canh, rồi Phúc Giang, đến thời Tây Sơn là Hoằng Giang. Dưới triều Gia Long, làng mang tên Phước Tích, với ý nguyện tích phúc cho con cháu đời sau.
Quyết định xếp hạng năm 2009 (số 832/QĐ-BVHTTDL ngày 3/3/2009) đưa Phước Tích thành một trong những làng đầu tiên ở Việt Nam được bảo vệ như một tổng thể, cùng với Đường Lâm ở Hà Nội. Năm 2019, làng được công nhận là điểm du lịch địa phương.
Nhà rường Phước Tích: những ngôi nhà vườn xứ Huế
Nhà rường là báu vật của Phước Tích và là lý do chính để về làng. Không nơi nào quanh Huế có nhiều nhà rường như thế, mỗi ngôi trong khu vườn riêng, ngay tại làng nơi chúng được dựng lên.
Số liệu khác nhau tùy nguồn và tùy năm. Năm 2023, Bộ Văn hóa nói đến 38 ngôi nhà gỗ hơn trăm tuổi, gồm nhà ở và nhà thờ họ; các khảo sát khác đếm khoảng ba mươi nhà cổ trong số 117 nóc nhà của làng, phần lớn dựng vào thế kỷ XIX, ngôi cổ nhất khoảng năm 1850, trong đó mười hai ngôi được xếp vào loại có giá trị đặc biệt.
Nhà rường là một bộ khung gỗ lắp ghép không đinh, không sắt: cột, kèo, xà, rui được giữ bằng mộng, chốt, nêm, và đặt trên chân tảng đá. Cả ngôi nhà có thể tháo ra và dựng lại nơi khác. Người ta dời nhà, bán nhà, dựng lại nhà: nhà rường biết đi.
Ba gian hai chái
Phần lớn nhà ở đây theo kiểu ba gian hai chái, hoặc một gian hai chái. Gian giữa đặt bàn thờ, dành cho việc thờ cúng và những dịp lễ của gia đình; hai gian bên để tiếp khách và sinh hoạt; theo lệ xưa, buồng phía tây dành cho chủ nhà, buồng phía đông cho bà chủ. Nhiều nhà dựng theo hình chữ Đinh, với một nếp nhà thứ hai đặt ngang phía sau nhà chính.
Bộ khung có trật tự rõ ràng. Một ngôi nhà ba gian hai chái đứng trên chừng 56 cây cột: 8 cột cái, 16 cột quân, 24 cột hiên nhỏ và 8 cột hiên trước, tất cả đặt trên chân tảng đá chạm, trên nền móng đá hộc, dưới mái ngói liệt Huế. Tổ tiên ở giữa nhà, người sống quây quanh.
Nghệ thuật chạm khắc
Vẻ đẹp của nhà rường nằm nhiều ở phần chạm. Kèo, xà, liên ba, cửa được chạm tứ linh, bát bửu, mai, lan, cúc, trúc và mây cuộn, mỗi đề tài một ý nghĩa. Ngay phía đông bắc là Mỹ Xuyên, làng có tiếng về chạm gỗ: chạm khắc ở đây vốn là nghề của cả vùng, và ở Phước Tích nghề ấy vẫn còn (xem phần dưới).
Một số gia đình thường xuyên mở cửa đón khách. Nhà ông Hồ Văn Tuệ hay tiếp khách; một ngôi nhà khác, do ông nội của nghệ nhân gốm Lê Trọng Diễn dựng năm 1908, bày gốm có ghi chú trên kệ gỗ, và trong chái tranh còn giữ đồ nghề cũ, một lò đất và bếp củi.
Một ngôi nhà Art Deco
Giữa những ngôi nhà gỗ, có vài ngôi được dựng hoặc sửa vào những năm 1920 theo một lối Art Deco địa phương, với đường nét hình học và hoa văn chạm ở góc cửa sổ. Hãy tìm xem: một trong số đó đã gợi ý cho căn phòng Art Deco của chúng tôi ở Thiên Ý.
Vào nhà, uống chén trà
Ở đây không có quầy bán vé. Cổng nào mở thì xin phép; một người trong nhà sẽ dẫn vào, kể ai dựng nhà, bàn thờ thờ những vị nào, rồi mời trà. Khi về, theo lệ, khách để lại chút tiền trên bàn. Xin phép trước khi chụp ảnh trong nhà, và đừng chạm vào bàn thờ. Nếu nhà vắng chủ, ngôi nhà kế bên chỉ cách vài bước.
Nhà trong vườn
Mỗi ngôi nhà đứng trong khu vườn riêng với cây trái và hàng chè tàu, trước nhà là sân gạch, và những lối nhỏ chạy giữa các khu vườn. Kiểu bố trí này rất xứ Huế, khác hẳn làng đồng bằng Bắc Bộ nơi nhà san sát sau lũy tre và cổng làng. Ở đây nhà nằm thưa, và cả làng như một khu vườn chung.
Làng chia thành các xóm: Thượng Hòa ở thượng nguồn, Trung Hòa ở giữa (còn gọi là xóm Đình), Hạ Hòa ở hạ nguồn (xóm Cầu) và xóm Lò. Dọc khúc sông có mười hai bến nước, mỗi họ một bến, với những cái tên kể lại đời sống của làng: bến Lò, bến Chùa, bến Đình, bến Cây Thị, bến Miếu Vua… Vẫn có người ra bến giặt giũ, dù nhà nào giờ cũng có nước máy.
Sau làng là hồ Hà Trì. Sen trắng ở đây tương truyền có từ Đại Nội, do bà Nguyễn Thị Huệ đem về để ướp trà và làm rượu sen: đó chính là sen Hà Trì trong câu ca dao nhắc ở phần dưới. Tháp chuông nhà thờ Phú Xuân nhô lên giữa lũy tre gần đó.
Làng gốm Phước Tích: nghề hơn năm trăm năm
Suốt nhiều thế kỷ, Phước Tích làm đồ gốm dùng hằng ngày cho cả vùng: nồi niêu, lu, chum, vại, được chuộng vì bền. Ca dao xưa còn nhắc đến nồi đất Phước Tích nấu cơm vua và sen Hà Trì thơm khắp Phú Xuân.
Mối liên hệ với triều đình có ghi chép rõ. Từ thời Minh Mạng đến Khải Định, làng được cho là mỗi tháng tiến khoảng ba mươi chiếc nồi nhỏ cho Thượng Thiện để nấu cơm vua; một chiếc “om ngự” như thế hiện còn ở Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế. Thời thịnh nhất, làng có cả chục lò, thuyền chở lu, nồi từ các bến Ô Lâu đi Quảng Trị, Quảng Nam, Quảng Ngãi và xa hơn. Các nhà nghiên cứu địa phương còn cho rằng từ cuối thế kỷ XVI, một phần gốm làng đã sang Nhật qua thương cảng Hội An.
Mặt hàng hoàn toàn để dùng: nồi om, trách, lu, chum, độôc, cối, bình vôi, chậu. Tất cả nặn tay bằng đất sét bờ sông và nung không men, nên gốm có màu đỏ nâu ấm đến gần như đen. Làng thờ các vị tổ nghề ở Miếu Đôi, đầu làng.
Nghề sa sút từ cuối những năm 1980, và lò truyền thống cuối cùng tắt năm 1995. Từ đó nghề được phục hồi phục vụ khách tham quan: thanh niên trong làng được đào tạo ở Bát Tràng, có hỗ trợ quốc tế (trong đó có JICA của Nhật và vùng Wallonie của Bỉ, nơi giúp xây một lò mới), và một xưởng nơi khách có thể xem thợ làm và thử bàn xoay.
Gốm xưa mộc, không men; ngày nay các xưởng còn vẽ lên đất đỏ, như trong ảnh. Hãy đến vì lịch sử và để xem đôi tay người thợ: còn gốm men thì trung tâm lớn ở phía bắc, như Bát Tràng gần Hà Nội. Việc thực hành tùy từng xưởng, nên nếu gốm là mục đích chính của chuyến đi, hãy hỏi trước.
Chạm gỗ: thợ mộc và thợ chạm Phước Tích
Gốm làm nên tên làng, nhưng Phước Tích cũng là làng của thợ mộc và thợ chạm: những người đã dựng và trang trí các ngôi nhà gỗ. Khác với lò gốm, xưởng mộc chưa bao giờ tắt. Con cháu họ vẫn chạm và dựng nhà gỗ, cùng những mối mộng, cùng những hoa văn ấy, và được tìm đến khắp vùng.
Chúng tôi làm việc với nhiều người trong số họ đã nhiều năm, và phần lớn việc họ làm cho chúng tôi được thực hiện ngay tại công trình, trong Kinh thành. Nghệ nhân Lê Văn Lưu đã chạm tượng người lính cầm đèn trên mặt tiền Nhà Hoa và đôi đầu rồng ở đầu bài. Nghệ nhân chạm Lê Việt và thợ mộc Hùng Mai làm việc thành cặp, một người chạm, một người dựng và lắp: cho Thiên Ý, họ làm những chiếc lồng đèn kiểu xưa, chạm và lắp ráp bằng mộng, không dùng keo, đúng như cách lắp một ngôi nhà rường, cùng giường và bình phong của phòng Sài Gòn.
Họ làm như làng họ vẫn làm: gỗ đặc, theo bản vẽ, bằng mộng chứ không bằng đinh hay keo.
Đình, chùa, miếu làng Phước Tích
Phước Tích còn giữ đủ các nơi thờ tự của một làng cổ trong vùng, vẫn được dân làng dùng đến hôm nay: đình xóm Giữa, chùa Phước Bửu, miếu Cây Thị, Miếu Đôi, miếu Quảng Tế và Văn Thánh.
Các miếu thờ
Đình Trung, đình xóm giữa, thờ thành hoàng, vị khai canh và mười hai họ. Ngôi đình đầu tiên, dựng khoảng năm 1825, bị phá trong thời chống Pháp; ngôi hiện nay dựng lại năm 1955 và trùng tu năm 1999. Hãy tìm ba tấm bia đá hơn trăm tuổi ghi công đức của ba người phụ nữ trong làng, Hồ Thị Quỳnh (1897), Lương Thị Toại (1898) và Lương Thị Dao, dưới trán bia chạm lưỡng long chầu nguyệt.
Miếu Đôi thờ một bên là ngài Khai canh, một bên là ngài Bổn nghệ (tổ nghề gốm); miếu được dời năm 1849 và dựng lại năm 1971.
Miếu Quảng Tế ở xóm Lò dựng trên nền một đền Chăm cũ: trước miếu còn một bệ yoni bằng đá và ba viên đá tròn. Miếu Cây Thị, trùng tu năm 1881, gắn với nữ thần Chăm Po Nagar, được thờ ở đây dưới một tên Việt. Gần bờ sông, một phù điêu sa thạch hình lá nằm dưới gốc cây bàng già.
Còn nữa: miếu thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh nhìn ra ngã ba sông Ô Lâu và Thác Ma, miếu Ngũ Hành nhìn ra hồ sen, Văn Thánh thờ Khổng Tử và các vị khoa bảng của làng, và một miếu nhỏ thờ thần Hổ, với hai truyền thuyết riêng.
Cây thị cổ và miếu Cây Thị
Những cây cổ thụ đứng cạnh các miếu và được thờ cúng như thần; nổi tiếng nhất là cây thị bên miếu Cây Thị. Dân làng kể thân cây rỗng từng là nơi giấu tài liệu, cả cán bộ và bộ đội, trong thời chiến. Năm 2015, cây và miếu được công nhận là Cây di sản.
Về Phước Tích làm gì: một trong những điểm đáng đi nhất quanh Huế
Hãy dành đủ thời gian và đi thong thả.
Nhà rường. Ngắm bộ khung, nét chạm, đồ đạc cũ và vật dụng trong nhà, và để chủ nhà kể chuyện ngôi nhà.
Gốm. Ghé một xưởng còn làm để xem thợ nặn, và có thể mang về một món.
Đường làng. Đi bộ hoặc đạp xe giữa các khu vườn, dừng lại bất cứ góc nào bạn thích.
Nơi thờ tự. Đình, chùa, miếu và nhà thờ họ vẫn đang được dùng: hãy đọc biển và giữ yên lặng.
Ăn uống. Bếp làng dùng nhiều vả và mít, làm gỏi, cùng các loại bánh gói lá: bánh phu thê, bánh ít lá gai, bánh su sê. Làng hầu như không có quán ăn: bữa ăn được đặt ở một nhà dân qua ban quản lý làng, nơi cũng có thể tìm giúp hướng dẫn viên, xe đạp, thuyền, hay một buổi làm gốm, làm bánh. Những hoạt động này thay đổi theo mùa, nên hãy hỏi trước.
Lễ hội của làng
Làng có lịch lễ riêng theo âm lịch: Tảo mộ âm hồn (rằm tháng Giêng), Kỳ Yên cầu an, cầu mùa (16 tháng Sáu), lễ giỗ ngài Khai canh và ngài Bổn nghệ (mồng 5 tháng Mười Một), cùng ngày giỗ của từng họ. Hai năm một lần, trong dịp Festival Huế, làng tổ chức “Hương xưa làng cổ”, lần đầu năm 2006.
Đi Phước Tích từ Huế: một ngày về làng
Đường đi
Phước Tích cách Huế khoảng 40 km về phía bắc, chừng một giờ đi ô tô hoặc xe máy theo hướng Phong Điền.
Ở lại bao lâu
Nửa ngày đủ để xem nhà rường và vài ngôi miếu. Muốn xem thêm gốm, ăn một bữa, đạp xe hay đơn giản là trò chuyện với người làng, hãy dành gần trọn một ngày.
Nên biết
Không cần đặt trước để thăm nhà: cổng mở thì xin phép vào. Làm gốm, làm bánh hay đi thuyền thì nên hẹn trước.
Làng rất yên. Nhiều người trẻ đã đi học, đi làm ở thành phố, và bạn sẽ gặp chủ yếu người già và trẻ nhỏ; đó cũng là một phần sự bình yên của làng, và là lý do sự đón tiếp trong mỗi ngôi nhà gần gũi đến vậy.
Đi giày dễ đi, xin phép trước khi chụp ảnh trong nhà, và không chạm vào đồ cổ hay đồ thờ.
Từ Phước Tích đến Thiên Ý: nhà rường và nét chạm Phước Tích trong Kinh thành
Cung điện trong Kinh thành kể chuyện triều Nguyễn; Phước Tích cho thấy nhà cửa và nghề thủ công của vùng quê quanh đó. Ở Thiên Ý, các biệt thự của chúng tôi trong Kinh thành Huế, cách Đại Nội năm phút đi bộ, hai thế giới ấy gặp nhau: bạn ngủ trong nhà rường, giữa những tác phẩm của những người thợ Phước Tích bạn vừa đọc đến.
Nhà Thú là một ngôi nhà rường cũ chúng tôi tìm thấy ở Vân Quật Đông, một làng chài bên phá gần Huế; ngư dân kể nhà khoảng tám mươi tuổi và vốn đã được dời từ nơi khác trong vùng về. Chúng tôi dời nhà thêm một lần nữa, vào Kinh thành, tháo ra và lắp lại từng chốt, và phục hồi thành một ngôi nhà toàn gỗ lim. Tầng trên của Nhà Chim là một ngôi nhà rường khác, dựng lại trên đỉnh biệt thự. Quanh đó, tượng người lính trên Nhà Hoa, đôi đầu rồng, những chiếc lồng đèn và những chiếc giường chạm đều từ tay thợ Phước Tích. Sau một buổi sáng ở làng, bạn sẽ nhận ra những mối mộng và nét chạm ấy ngay dưới mái nhà mình.
Bộ phận concierge của chúng tôi có thể lo trọn chuyến đi trong ngày: xe, hướng dẫn viên địa phương, và chén trà trong một ngôi nhà rường. Từ ngày 1/12/2026, Thiên Ý Lake, khách sạn của chúng tôi bên một hồ nước yên tĩnh trong Kinh thành, đón các cặp đôi và những kỳ nghỉ ngắn hơn.
Làng cổ Phước Tích: những câu hỏi thường gặp
Phước Tích cách Huế bao xa?
Khoảng 40 km về phía bắc Huế, chừng một giờ đi ô tô hoặc xe máy theo hướng Phong Điền.
Nhà rường là gì?
Ngôi nhà gỗ truyền thống của miền Trung và của nhà vườn xứ Huế: một bộ khung cột, kèo, xà, rui lắp bằng mộng, chốt, không dùng đinh, đặt trên chân tảng đá, nên có thể tháo ra và dựng lại nơi khác.
Nên ở Phước Tích bao lâu?
Nửa ngày để xem nhà cổ và vài ngôi miếu; gần trọn một ngày nếu muốn thêm gốm, một bữa ăn ở nhà dân và một vòng đạp xe.
Có vào thăm nhà dân được không?
Được. Cổng nào mở thì xin phép; người trong nhà sẽ dẫn đi xem và thường mời trà. Khi về, theo lệ, khách để lại chút tiền trên bàn.
Nguồn tham khảo: Cổng thông tin TP Huế – Du lịch cộng đồng làng cổ Phước Tích; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch – Bảo tồn làng cổ Phước Tích; VnExpress, “Nét xưa nơi làng cổ Phước Tích”; Dân tộc & Phát triển, “Về làng cổ Phước Tích” (2023); Về Làng, “Lịch sử làng gốm cổ Phước Tích”; Khám Phá Di Sản; Bộ Văn hóa, “Hồi sinh nghề gốm Phước Tích” (2015); VietNamNet, “Đời sống thường ngày ở ngôi làng 500 tuổi” (2023).